Thứ Năm, 28 tháng 5, 2020

(BOOK REVIEW) BÌNH LUẬN SÁCH: LÝ THƯỜNG KIỆT: LỊCH SỬ BANG GIAO VÀ TÔNG GIÁO TRIỀU LÝ (黃春瀚的《李常傑:李朝的邦交與宗教歷史》評論


Hoàng Xuân Hãn tiên sinh với cuốn "La Sơn Phu Tử" trên tay

Giới thiệu về tác giả:

Hoàng Xuân Hãn (黃春瀚) tiên sinh sinh năm 1908 ở làng Yên Hồ, huyện La Sơn, nay thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Tiên sinh học chữ Hán và chữ Quốc Ngữ từ nhỏ tại gia. Hoàng tiên sinh thi đậu Thành Chung năm 1926, về sau tiên sinh chuyển sang nghiên cứu Toán học tại trường Albert Sarrault. Năm 1930, tiên sinh lại thi đỗ vào trường đại học danh giá nước Pháp là École Normale Supérieure và trường École Polytechnique ở Paris, là những trường tuyển sinh rất ngặt nghèo. Nhiều học sinh ưu tú từ trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội mà người viết quen biết cũng theo học hai trường này. Được tuyển vao 2 trường này không phải dễ dàng, vì ở cái thời thuộc địa thì thân phận một người Annamite không được xem trọng. Cùng thời với ông, chắc chỉ có mỗi luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) là có thể sánh ngang tiên sinh. Hoàng tiên sinh tỏ ra là một người giỏi cả khoa học tự nhiên và nhân văn xã hội. Ông để lại nhiều trước tác lịch sử nổi tiếng như cuốn "Lý Thường Kiệt" và "La Sơn Phu Tử". Đối với lĩnh vực Toán học, ông cho xuất bản cuốn "Éléments de trigonométrie" (Cơ sở lượng giác) và "Vocabulaire Scientique" (Từ vựng khoa học). Ông là một nhà bác học và sử học lớn của Việt Nam.

Để hiểu hơn về tiên sinh, có thể đọc thêm bài phỏng vấn này giữa tiên sinh và Thụy Khê: http://thuykhue.free.fr/hxh/hxhhxh.html

Phiên bản mà người viết sở hữu:

Bản mà gửi viết sở hữu là bản năm 2018 được in bởi Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội và nhà sách Khai Tâm. Bản in sáng sủa, chữ nghĩa rõ ràng, ở phía sau sách còn có bảng tên đất và tên người, rất tiện tra cứu, gần giống như mục Index trong sách tiếng Anh.

Hoàn cảnh xã hội và chính trị khi tiên sinh viết sách:

Hoàng tiên sinh cho xuất bản sách này lần đầu tiên năm 1949, được in bởi nhà xuất bản Sông Nhị, Hà Nội. Đây là giai đoạn mà Việt Nam đang tranh đấu để thoát khỏi đế quốc Pháp. Năm 1949 cũng là năm mà kháng chiến đang diễn ra cam go, chính phủ lâm thời của Hồ Chủ Tịch chưa nhận được viện trợ quân sự của Trung Quốc và Liên Xô nên tình thế quân sự phe ta vẫn rất khó khăn gian khổ. Nhưng giai đoạn này cũng là giai đoạn khiến tiên sinh có thể viết sách một cách khách quan và ít chịu ảnh hưởng của ngành sử học theo chủ nghĩa Marxism và chủ nghĩa dân tộc (Nationalism). Điều này là do chính phủ lâm thời chưa dựa theo mô hình XHCN của Liên Xô và Trung Quốc áp đặt lên Việt Nam, nên không khí học thuật có phần cởi mở hơn, sử gia có thể viết sách mà không sợ sự quản thúc và kiểm duyệt gắt gao của chính phủ.

1) Sử liệu

a) Sử liệu Việt Nam

Sử liệu mà Hoàng tiên sinh sử dụng để viết cuốn "Lý Thường Kiệt" bao gồm tư liệu Việt Nam và tư liệu Trung Quốc. Ở mục tư liệu Việt Nam, tiên sinh sử dụng nhiều nhất Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, vốn đã quen thuộc với người đọc, và đặc biệt là quyển Đại Việt Sử Lược (hay Việt Sử Lược), một quyển sử thác danh được cho là soạn vào đầu đời Trần. Tiên sinh đã nói "chép chuyện Tống kỹ càng, chuyện Lý đơn sơ" (trang 11). Ông nói đấy là lỗi của dân tộc ta, vì cha ông hoặc ít ghi chép tỉ mỉ sự kiện, hoặc không biết giữ gìn vết tích xưa. Tình trạng của tiên sinh cũng tương tự như Hà Văn Tấn tiên sinh khi biên soạn cuốn  “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông-Nguyên thế kỷ XIII”.

Ngoài 2 tài liệu trên, Hoàng tiên sinh còn dùng thêm sách Việt Điện U Linh và Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục,

Đáng kể nhất phải nói tới 6 tấm bia khắc mà tiên sinh góp phần phát hiện, cung cấp thêm nhiều thông tin quý giá về cuộc đời của Lý Thường Kiệt.

1. Bia chùa Bảo Ân, tạc năm 1100
2. Bia chùa Sùng Nghiêm Diên Khánh, soạn năm, tạc năm 1110
3. Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, tạc năm 1121
4. Bia chùa Hương Nghiêm, tạc năm 1124
5. Bia chùa Linh Xứng, tạc năm 1126
6. Bia chùa Ngọ Xá, dựng trễ nhất trong các bia, năm 1876.

Thật đáng tiếc là tiên sinh đã không kèm toàn bộ phần gốc chữ Hán của các văn bia này cùng bài dịch. Nhưng đòi hỏi như thế e là quá đáng, vì nhà xuất bản phải hạn định số lượng trang in sao cho đỡ tốn kém nhất và khiến giá thành đầu ra vừa túi người đọc.

b) Sử liệu Trung Quốc

Các tài liệu Trung Quốc mà tiên sinh sử dụng là:

1) Tiếp Tư Trị Thông Giám Trường Biên (續資治通鑑長編): Đây là một bộ sử sách đồ sộ biên soạn bởi nhà sử học Lý Đảo (李焘) (1115-1184). Không có nghi ngờ gì, đây là một tuyệt tác của lịch sử Trung Hoa. Lý Đảo đã dành 40 năm cuộc đời để biên soạn quyển sách này. Toàn sách có tới 980 quyển, hiện còn 520 quyển. Hoàng tiên sinh đã trích nhiều chiếu thư, hội thoại, các bài văn của các nhân vật chính trị chủ chốt nhà Tống như Tư Mã Quang, Vương An Thạch,...Ngay cả bài Chinh Nam Tông Nhất Văn Tự của Quách Quỳ cũng được giữ gìn ở đây. Đây là nguồn sử liệu chính của tiên sinh.

2) Tống sử (宋史) là một trong 24 chính sử của Trung Quốc, soạn vào đời Nguyên. Như tiên sinh nhận xét, phần Bản Kỷ chỉ cho biết một ít việc liên quan bang giao và chiến tranh Tống-Lý, phần liệt truyện cung cấp nhiều thông tin hơn. Tiên sinh cũng nhận xét phần Giao Chỉ Truyện rằng "có lẽ người Tống đọc đoạn này, cho là nhục quốc thể mà xé đi chăng." Nhưng tiên sinh không chỉ ra rõ là đoạn nào mà bị khuyết mất như thế.

3) Các sách khác như Đông Đô Sự Lược của Vương Xưng, Tốc Thủy Kỷ Văn của Tư Mã Quang, Nhị Trình Di Thư của anh em họ Trình, Chu Tử Ngữ Lục, Tống Hội Yếu...Đây đều là những tài liệu quý, và công sức tiên sinh bỏ ra sưu tầm thu thập hết sức đáng khâm phục, đặc biệt trong thời đại chưa có internet và các thư tịch cũ chưa được số hóa trên wikisource hay ctext.

Phương pháp nghiên cứu sử:

Tính khách quan:

Phương châm nghiên cứu sử của Hoàng tiên sinh là: "Không bịa đặt, không tây vị, hết sức rõ ràng, đó là những chuẩn thằng (đây là 1 từ cổ, khá ngạc nhiên vẫn còn dùng lúc tiên sinh viết sách này. Từ này chữ Hán là 準繩, nghĩa gốc là thước đo và dây rọi, sau diễn giải thành tiêu chí) tôi đã theo" (trang 11). Cuốn sách đã đi đúng với phương châm này. Trong sách tuyệt không thấy tiên sinh dùng những từ ngữ nặng nề để miệt thị chính quyền và quan lại nhà Tống. Tiên sinh gọi Tống Thần Tông là ông vua "có chí quật cường" (trang 102), gọi Vương An Thạch là "cao tài kinh tế" (trang 102). Ta thấy tiên sinh khách quan hơn so với Hà Văn Tấn tiên sinh trong việc đánh giá đối phương.

Cấu trúc của sách:

1) Chính sách đối ngoại với Lý triều trước khi Lý Thường Kiệt sang đánh Tống:

Nhìn tổng thể, theo đánh giá của người viết, phần lớn cuốn sách liên quan đến lịch sử chiến tranh và ngoại giao Tống-Lý. Trong đó bao gồm chiến dịch đánh Tống trước của Lý Thường Kiệt và chiến dịch Tống phản công Lý. Mối quan hệ Tống-Lý được Hoàng tiên sinh phân tích kỹ lưỡng qua việc khảo xét các phương sách không phải chỉ của riêng Vương An Thạch, mà còn ở các viên quan coi giữ biên thùy như chính sách hòa hoãn của Tiêu Chú, chính sách khiêu khích gây chiến của Thẩm Khỉ, và rốt cuộc là chính sách do dự của vua tôi Tống Thần Tông và Vương An Thạch.


Hoàng tiên sinh cũng tin rằng trước khi Lý Thường Kiệt cất quân phạt Tống, vua tôi Tống Thần Tông và Vương An Thạch đã nung nấu kế hoạch xâm chiếm An Nam-Giao Chỉ. Hãy điểm qua các dẫn chứng của tiên sinh. 

Hoàng tiên sinh dẫn Tống sử, quyển 334, Tiêu Chú truyện:

Nguyên văn là:

入覲,神宗問攻取之策,對曰:「昔者臣有是言,是時溪洞之兵,一可當十;器甲堅利,親信之人皆可指呼而使。今兩者不如昔,交人生聚教訓十五年矣,謂之『兵不滿萬』,妄也。」

Vào chầu, Thần Tông hỏi sách lược công chiếm, (Chú) đáp: "Xưa thần có nói lời ấy, bây giờ quân binh khê động, một có thể chọi mười, khí giáp kiên cứng sắc bén, người thân tín đều có thể chỉ tay hô lệnh mà điều khiển. Nay hai điều ấy không như trước, người Giao sinh tụ (tức tăng dân số nhân khẩu) giáo huấn đã mươi lăm rồi, nói rằng "binh không đầy vạn", là sai."

Đây là bản dịch của người viết, bản dịch của tiên sinh ở trang 109. 

Lời nói này của Tiêu Chú cũng được ghi trong Tiếp Tục Trị Thông Giám Trường Biên quyển 219:

會有言交趾為占城所敗,觽不滿萬,可計日取也。

Bấy giờ (Chú) có nói Giao Chỉ bị Chiêm Thành đánh bại, quân không đầy vạn, có thể tính kế chiếm lấy.

Quyết tâm đánh Giao Châu cũng thể hiện qua lời của Thẩm Khởi (Hoàng tiên sinh ghi là Thẩm Khỉ), Tiếp Tục Trị Thông Giám Trường Biên quyển 242:

會起言交州小醜無不可取之理

Bấy giờ Khởi nói Giao Châu nhỏ mọn không có lý gì không lấy được.

Một dẫn chứng khác của tiên sinh là lời nói của Vương An Thạch với Tống Thần Tông:

安石曰:「譬如乾德初立時,用二萬精兵足了,以中國之觽,募二萬人精兵,豈患無之?擇五七中材將帥,亦豈患無之?一舉滅交趾,則威立矣。以嘗勝之觽布之陝西,則陝西之兵人人有勝氣,以其氣臨夏國,不足吞也。吞夏國則中國之氣孰敢干撓。」

An-Thạch trả lời :"Lúc Càn-Đức mới lập, ta chỉ cần hai vạn tinh binh là xong việc. Ở Trung-quốc, há lại không thể mộ được hai vạn quân giỏi, năm bảy tướng vừa hay sao? Lúc quân ta diệt được Giao-chỉ, uy ta sẽ có. Rồi ta bá-cáo cho Thiểm-tây biết, quân dân Thiểm-tây sẽ thắng khí. Với thắng khí ấy, ta sẽ nuốt tươi nước Hạ. Mà nếu nuốt được Hạ, thì ai dám quấy nhiễu Trung-quốc nữa" (Nhật-lục, TB 276/2a, 2b và 3a).

Trích bài dịch của tiên sinh trang 105. Điều này được ghi trong Trường Biên quyển 276, tức năm 1076.

Còn một lời nữa, mà theo Hoàng tiên sinh là của Vương An Thạch:

「若勝,則宋勢增,遼夏諸國定生敬畏」。

Nếu thắng, thế Tống sẽ tăng, và các nước Liêu, Hạ sẽ phải kiêng nể.
Lời này được ghi ở trang 105, nhưng không thấy tiên sinh chú ở nguồn sử liệu nào.

Đây là các dẫn chứng mà tiên sinh đưa ra cho việc Tống định đánh ta trước khi Lý Thường Kiệt sang phạt Tống.

2) Chiến dịch phạt Tống của Lý Thường Kiệt

Phương pháp tái dựng quá trình chiến tranh của Lý Thường Kiệt là phương pháp viết theo trình tự thời gian (chronological order). Các Liêm và Khâm Châu được Hoàng tiên sinh thuật lại dựa trên Tống Sử, Trường Biên, Toàn Thư và Đại Việt Sử Lược. Tư liệu ít ỏi nên việc phục dựng gặp khó khăn. Tuy nhiên, trung tâm của chiến dịch này chính là trận vây thành Ung Châu. Thái Úy Tô Giàm đã dùng nhiều mưu kế để tiến hành phòng thủ thành, khiến cho quân Lý vây thành 40 ngày mới phá được. Hoàng tiên sinh nói rằng: "sách Tống đã tìm mọi cách để giảm võ công ta, như nói có người Tống bày mưu kế hay chiến thuật" (trang 133). Người viết cho rằng không phải vậy. Việc quân Việt không thiện công thủ thành là một sự thật lịch sử. Người Tống do phải chống chọi với quân Liêu, Hạ, vốn lấy kỵ binh làm chủ lực, đã phải phát triển các phương pháp thủ thành để tiến hành đề kháng quân kỵ. Việc xây dựng và củng cố thành lũy giúp nhà Tống tổ chức phòng thủ tốt hơn, và tránh phải giao chiến trên đồng không mông quạnh, là nơi sở trường của Liêu, Hạ được phát huy triệt để. Về phía Việt, quân ta chủ yếu dựa vào thủy chiến, dùng thuyền bè làm phương tiện tiến và lui quân, không cậy vào thành quách như Tống nên các phép công thủ thành đương nhiên không bằng Tống. Đấy là một sự thật khách quan.

3) Chiến dịch Nam phạt của Tống

Hoàng tiên sinh đã nghiên cứu kỹ các sử liệu để xác định quân số và lượng lương thực cần để nuôi quân. Quân Tống Nam phạt có khoảng 100,000 quân và 10,000 ngựa. Bấy nhiêu quân cần 400,000 dân phu tải lương để cung cấp lương thực trong chỉ 1 tháng. (trang 106). Đây là khó khăn lớn nhất, vì nếu Tống không thể đánh thắng ta một trận quyết định, thì cầu cưa lâu trên đất ta sẽ khiến việc cung cấp lương thực thêm khó khăn.

Điều thứ hai ta thấy tiên sinh đã thành công làm đó là khắc họa được tính cách của một số viên tướng chỉ huy quân Tống. Quách Quỳ thể hiện là một người rụt rè, cẩn trọng, không liều lĩnh. Miêu Lý là một tướng bạo gan, từng đưa quân chọc thủng phòng tuyến quân Lý và tiến lên chỉ cách kinh đô Thanh Long 15 dặm. Vương Tiến là kẻ nhát gan, thấy quân ta chặn Miêu Lý thì sợ ta dùng cầu phao mà họ đã dựng qua sông lên bờ Bắc, bèn lệnh cắt cầu phao, khiến chọ hậu và tiền quân Tống không tiếp cứu được nhau. Nhìn chung, ta thấy các tướng đánh ta không phải là những hùng tướng đầy mưu lược. Tính cách của Quách Quỳ là đặc trưng của võ tướng nhà Tống. Khảo sát sử liệu chiến tranh Tống-Liêu, Tống-Hạ, ta thấy phần nhiều tướng Tống cũng rụt rè, chỉ lấy thủ làm trọng. Đó là vì Bắc cương của Tống toàn các nước có nhiều kỵ binh, còn quân Tống đa phần bộ binh, quân địch rút nếu bất lợi, tiến nếu thắng lợi, còn quân Tống chậm chạp, thắng truy không kịp, thua chạy khó thoát. Điều đó khiến tướng Tống hay dặt dè, sợ sệt. Quỳ cũng từng là tướng coi Bắc thùy, nên nhiễm tính ấy.

Đọc các trang đoạn làm ta chua xót cho Tống nhất là đoạn Quách Quỳ cho Tống đóng bè rất lớn, chở được 500 quân, tiến sang bờ Nam. Quân Lý đã làm hàng rào tre nứa nhiều lớp, Tống sang bờ ra sức chặt bẽ đốt bỏ, nhưng dày quá không làm nổi, muốn rút thì bè đã rời bến sang bờ Bắc chở quân tiếp viện sang tiếp, nên tiến không được mà lui cũng không xong, rốt cuộc bị quân Lý đánh giết bắt sống. Đây là dựa vào sách Nhị Trình Di Thư (trang 203)

4) Đạo Phật thời Lý

Sách của tiên sinh không những là một sách lịch sử quân sự, cũng không hẳn là sách tiểu sử của Lý Thường Kiệt, mà còn là một sách nghiên cứu đạo Phật thời Lý. Lý Thường Kiệt tuy là võ tướng nhưng rất chuộng đạo Phật, từng che chở cho nhiều sư tăng. Có một điều đáng tiếc là tiên sinh không bàn đến xung đột tư tưởng giữa một bên là đạo Phật ngăn cấm giết chọc và một bên là chiến tranh. Lý Thường Kiệt đã dung hòa tư tưởng này thế nào?

Nghi vấn về việc Tống chủ tâm đánh ta trước khi Lý Thường Kiệt phạt Tống:

Sau khi đọc sách này, người viết cảm thấy còn tồn nghi những bằng chứng cho thấy Tống có ý chiếm lấy Giao Chỉ trước khi Lý Thường Kiệt công phạt 3 châu Khâm, Liêm, Ung. Hãy điểm lại những bằng chứng trong thư tịch nhà Tống về "âm mưu" này. Như ở trên đã trích dẫn, dưới đây xin trích lại:

Hiến kế đánh ta có Tiêu Chú:

入覲,神宗問攻取之策,對曰:「昔者臣有是言,是時溪洞之兵,一可當十;器甲堅利,親信之人皆可指呼而使。今兩者不如昔,交人生聚教訓十五年矣,謂之『兵不滿萬』,妄也。」

Vào chầu, Thần Tông hỏi sách lược công chiếm, (Chú) đáp: "Xưa thần có nói lời ấy, bây giờ quân binh khê động, một có thể chọi mười, khí giáp kiên cứng sắc bén, người thân tín đều có thể chỉ tay hô lệnh mà điều khiển. Nay hai điều ấy không như trước, người Giao sinh tụ (tức tăng dân số nhân khẩu) giáo huấn đã mươi lăm rồi, nói rằng "binh không đầy vạn", là sai." (Tống Sử, Tiêu Chú truyện, quyển 334)

會有言交趾為占城所敗,觽不滿萬,可計日取也。

Bấy giờ (Chú) có nói Giao Chỉ bị Chiêm Thành đánh bại, quân không đầy vạn, có thể tính kế chiếm lấy. (Trường Biên quyển 219)

Ngoài ra còn có Thẩm Khởi:

會起言交州小醜無不可取之理

Bấy giờ Khởi nói Giao Châu nhỏ mọn không có lý gì không lấy được. (Trường Biên quyển 242)

Tuy nhiên, ta thấy đây chỉ là những ý kiến của các viên quan trông coi vùng biên cương giáp ta. Triều đình Tống đã không trọng dụng những ý kiến này. Ta hãy xem xét thêm một số dữ kiện để thấy xem liệu người Tống có muốn đánh ta hay không.

Vương An Thạch nói:

「伏奉手詔,賜示王圭所進文字,且論及交趾事。竊承聖志以豐財靖民為事,此生民之福也。然萬里之外,計議於初,不容不審,溫杲等以欽、廉等州為憂,是也。至於戒敕邊臣,撫慰交趾,即恐不須如此,既傷陛下之信,或更致交趾之疑..."

"Quì phụng thánh chiếu (nguyên văn là thủ chiếu 手詔, tức chiếu thư do hoàng đế đích thân viết), văn tự mà quý Vương Tiến đây gửi, luận tới chuyện Giao Chỉ. Trộm thừa thánh chí (tức chí hướng của vua) phụng sự việc làm giàu cho nước, khiến dân yên ổn, đó là phúc của dân sinh. Nhưng việc ngoài vạn lý, kế sách bàn nghị khi trước, không thể rộng lượng không xét tới, bọn Ôn Cảo lấy Khâm, Liêm Châu làm mối lo, đúng như vậy. Đến như khuyên răn biên thần, vỗ về Giao Chỉ, thì sợ không nên như thế, tức làm tổn hại uy tín bệ hạ, hoặc càng làm cho Giao Chỉ sinh nghi... (Trường Biên quyển 217)

Đoạn này được Trường Biên liệt vào năm Hi Ninh thứ 3 (1070) cho ta thấy An Thạch can việc xúi giục vua Tống Thần Tông đánh An Nam.

知桂州潘夙言:「主管邕州溪峒文字蔣聖俞,近到任,即建白欲取交趾,恐致生事。乞改授聖俞廣南東路差遣。」

Tri Quế Châu Phan Túc (Hoàng tiên sinh ghi là Phan Bội) nói: "Chủ quản Ung CHâu khê động văn tự Tưởng Thánh Du, gần đây đến nhậm chức, liền đề xuất kiến nghị muốn lấy Giao Chỉ, sợ gây sinh sự. Xin đổi làm Thánh Du Quảng Nam Lộ Sai Khiển." (Trường Biên quyển 216)

Việc này cũng chép năm 1070.

Trường Biên quyển 219 lại chép lời nói này mà được cho là của Phan Túc:

潘夙傳云夙陳交趾可取,此云「觽不滿萬」,或是夙所陳也,當考。

Phan Túc truyện nói Túc kể Giao Chỉ có thể lấy được, hắn nói: "Quân không đầy vạn", hoặc là lời Túc trần thuật, nên khảo xét.

Như vậy không chắc Phan Túc đã nói lời ấy. Hoàng tiên sinh cho rằng Túc bất nhất, trước hặc tội người khác về việc đánh Giao Chỉ, nay lại bảo Giao Chỉ có thể lấy được. Người viết cho rằng chính Tiêu Chú mới nói lời ấy, chứ không phải Phan Túc.

Trường Biên quyển 242, năm 1073 lại ghi:

然有獻策平交州者,輒火其書。

Nhưng có kẻ hiến kế sách bình Giao Châu, Chú liền đốt bỏ thư đi.

Cụ thể hơn, người viết đã cố gắng truy tìm trong sách của Hoàng tiên sinh các chứng cứ chứng tỏ người Tống tích trữ lương thảo ở các nơi Ung, Liêm, Khâm để định ngày đánh ta nhưng tìm không thấy. Trong các quan lại coi sóc biên cương Nam thùy, chỉ thấy có Thẩm Khởi là có ý muốn đánh ta, nhưng những việc ông ta làm cũng không phải là sự chuẩn bị cho một cuộc đại chiến.

Ta thấy dẫn chứng này:

安石曰:「譬如乾德初立時,用二萬精兵足了,以中國之觽,募二萬人精兵,豈患無之?擇五七中材將帥,亦豈患無之?一舉滅交趾,則威立矣。以嘗勝之觽布之陝西,則陝西之兵人人有勝氣,以其氣臨夏國,不足吞也。吞夏國則中國之氣孰敢干撓。」


An-Thạch trả lời :"Lúc Càn-Đức mới lập, ta chỉ cần hai vạn tinh binh là xong việc. Ở Trung-quốc, há lại không thể mộ được hai vạn quân giỏi, năm bảy tướng vừa hay sao? Lúc quân ta diệt được Giao-chỉ, uy ta sẽ có. Rồi ta bá-cáo cho Thiểm-tây biết, quân dân Thiểm-tây sẽ thắng khí. Với thắng khí ấy, ta sẽ nuốt tươi nước Hạ. Mà nếu nuốt được Hạ, thì ai dám quấy nhiễu Trung-quốc nữa" (Nhật-lục, TB 276/2a, 2b và 3a).

diễn ra vào năm 1076, tức là sau khi ta đã đánh Tống. Lúc ấy thái độ triều đình Tống mới chuyển sang việc chinh phạt phục thù nước ta.

Vậy tranh chấp giữa ta và Tống là gì? Đó là tranh thủ các tù trưởng khê động, lôi kéo họ về phe mình. Đất của họ trên danh nghĩa sẽ thuộc về một trong hai bên.

Trên đây chỉ là nghi vấn, người viết cần khảo bị thêm để có thể chứng minh nhà Tống không có ý xâm chiếm Đại Việt trước khi Lý Thường Kiệt cất quân đánh Tống.

Bị dịch sai và hiểu nhầm:

Trong sách của Hoàng tiên sinh có đoạn: "Năm 1062, Tông-Đán và con đem các động thuộc mình, là Lôi-hỏa và Kế-thành, nộp cho Tống, và xin tới ở Lạc-châu. Tống nhận đất, bổ Tông-Đán coi châu Thuận-an (là vùng Lôi-hỏa, Kế-thành mới được đổi ra tên ấy) và bổ Nhật-Tân coi việc thuế ở Ung-châu. (TS 495)

Như vậy, cha con Tông-Đán vẫn giữ đất cũ, là đất mà ta vẫn coi thuộc ta." (trang 95)

Nhà sử học James A.Anderson trong bài tiểu luận "Treacherous factions: Shifting frontier alliances in the breakdown of Sino-Vietnamese relations on the eve of the 1075 border war" trong cuốn "Battlefronts real and imagined: War, border, and identity in the Chinese middle period" xuất bản bởi Palgrave Macmillan đã dịch đoạn in đậm thành:

"The family of Tong Dan still maintained control of his old territory, which therefore was territory that still belonged to Vietnam." (trang 193)

Anderson trích đoạn này từ sách của Hoàng tiên sinh, trang 122, bản năm 1949.

Câu trên dịch sang tiếng Việt sẽ là:

"Gia đình của Tông Đán vẫn còn kiểm soát lãnh thổ cũ của ông ta, mà do đó là lãnh thổ vẫn thuộc về Việt Nam."

Nguyên văn của tiên sinh phải là:

"Như vậy, cha con Tông-Đán vẫn giữ đất cũ, là đất mà ta vẫn coi thuộc ta."

"Thefore, Tông Đán's father and son still retain their old territory, which was territory that we still consider to belong to us."

Nghĩa đã hơi khác, ta thấy nghĩa gốc của tiên sinh là lãnh thổ mà triều đình ta vẫn xem là của ta, chứ không phải là lãnh thổ hiển nhiên là thuộc về Việt Nam. (which therefore was territory that still belonged to Vietnam.)

Nghĩa hơi khác (subtle), nhưng quan trọng. Đất ấy không phải hiển nhiên thuộc về ta, mà chẳng qua là triều đình vẫn cho nó thuộc về ta, nay thì về Tống.

Kết luận

Quyển sách này của tiên sinh là một trước tác hết sức có giá trị. Nó gần như hoàn toàn khách quan và không thiên vị cho cả Lý lẫn Tống. Tiên sinh đã khảo cứu một lượng tư liệu lớn lao để có thể biên soạn nó. Kế nữa, văn phong của tiên sinh cũng rất tao nhã, mang hơi hướng thứ văn xưa đất Hà Nội. Tiên sinh lại là người học Toán nên cách trình bày và lập luận rất chi chặt chẽ. Tuy vậy, điểm yếu của sách nằm ở chỗ tiên sinh đã không dịch trọn bộ một số đoạn trong Trường Biên. Khi người viết đi so sánh thì thấy nguyên văn và dịch văn chưa khớp về nghĩa. Tổng quan mà nói, sách này về mặt học thuật cao hơn sách của Hà Văn Tấn tiên sinh "Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông thế kỷ XIII" ở tinh thần khách quan. Hoàng tiên sinh đã không miệt thị vua tôi nhà Tống như Hà tiên sinh đã làm với vua thần nhà Nguyên. Đây là một quyển kinh điển mà ai cũng phải đọc để hiểu rõ lịch sử thời Lý.

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2020

(BOOK REVIEW) BÌNH LUẬN SÁCH: CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯỢC MÔNG NGUYÊN THẾ KỶ XIII (何文晉的《13世紀對蒙元侵略的抗戰)》評論

Hà Văn Tấn tiên sinh

Giới thiệu về tác giả:


Hà Văn Tấn (何文晉) tiên sinh, sinh năm 1937, mất năm 2019, hưởng thọ 82 tuổi, là một trong những nhà sử học miền Bắc lớn nhất Việt Nam. Quê ông ở Hà Tỉnh. Ông để lại rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, thật tiếc đa số các công trình này được in từ khá lâu và vẫn chưa được tái bản toàn bộ. Ngoài tiếng Việt, ông thông cả tiếng Hán cổ và hiện đại, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Nga. Dựa vào phần giới thiệu sách “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông-Nguyên thế kỷ XIII”, người viết cho rằng ông cũng có kinh nghiệm nhất định với ngôn ngữ Ả-rập và Ba-tư trung đại. Khả năng ngôn ngữ của ông thật đáng nể phục, xứng đáng với danh hiệu “tứ trụ” trong ngành lịch sử Việt Nam đương thời. 

Các bản mà người viết sở hữu của cuốn "Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông thế kỷ XIII":

Người viết tình cờ tìm được quyển sách “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông-Nguyên thế kỷ XIII” trên tủ sách của ông nội người viết ở Hà Nội trong thời gian dự lễ tang của bà nội (người viết sinh ở Sài Gòn) năm 2003. Bản này in năm 1968, là bản in đầu tiên. Gần đây, do mang sách theo để ở Hoa Kỳ và khi về không mang về nên người viết đã phải mua sách tái bản năm 2019 của nhà xuất bản Hồng Đức. Bản in này sáng sủa và in trên giấy rất tốt. Như vậy người viết đã sở hữu hai bản. Thật ra từ năm 2003 đến nay, người viết từng mua được một bản in năm 1972, tức in lần 2, từ một tiệm sách cũ trên đường Trần Nhân Tông ở Sài Gòn, nhưng đáng tiếc trong quá trình chuyển nhà đã thất lạc, nay không biết ở đâu.

Hoàn cảnh xã hội và chính trị khi tiên sinh viết sách:

Như đã viết ở trên, bản in đầu tiên của cuốn sách này là bản năm 1968. Đây là thời gian chiến tranh kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt. Năm 1968 đánh dấu một năm đầy biến động đối lịch sử Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa, khi lực lượng quân sự du kích dưới sự chỉ huy của Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc Miền Nam đã tiến hành một cuộc nổi dậy khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, khiến cục diện chính trị ở Mỹ và Việt Nam biến đổi sâu sắc. Trong hoàn cảnh đó, Hà tiên sinh đã soạn sách này với phương châm khảo cứu cuộc chiến chống xâm lược Mông-Nguyên để rút tỉa bài học cho cuộc chiến chống quân xâm lược Hoa Kỳ. Như trong phần kết luận, tiên sinh ghi rằng: “Giờ đây, nhân dân Việt Nam lại đang chiến đấu và chiến thắng một tên cướp hung hãn khác là Đế Quốc Mỹ” (trang 303, bản 2019). Như vậy, ta thấy cuốn sách này được viết trong thời kỳ tinh thần dân tộc chủ nghĩa lên cao. Ta có thể thấy tiên sinh viết sử xưa để người đọc nay liên tưởng đến cuộc chiến tranh chống Mỹ, có mục đích cổ động quân dân miền Bắc vượt qua khó khăn để đánh thắng quân Hoa Kỳ và VNCH. . Điều này có nghĩa cách viết sử của tiên sinh có những ưu và khuyết điểm của tinh thần này.

Ưu điểm của sách

1) Sử liệu:

Một trong những ưu điểm lớn nhất mà sách này sở hữu, đó là số lượng sử liệu mà Hà tiên sinh sử dụng. Các nguồn sử mà tiên sinh dùng bao gồm sử liệu Việt Nam, sử liệu Trung Quốc, sử liệu Ả-rập và Ba Tư, sử liệu Nga, và nhiều công trình nghiên cứu của các nhà Mông Cổ học ở các nước phương Tây, điển hình là nhà sử học Pháp Paul Pelliot. Chỉ cần đảo mắt nhìn qua phần giới thiệu sử liệu của tiên sinh, ta đã thấy công sức sưu tập các nguồn sử liệu của tiên sinh và các đồng nghiệp của minh trong những năm 1960 hết sức đáng kinh ngạc và khâm phục.

a.  Sử liệu Việt Nam

Sử liệu Việt Nam mà tiên sinh sử dụng chính là quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Vì các tài liệu như Trung Hưng Thực Lục (中興實錄), Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư (萬劫宗秘傳書) và Binh Thư Yếu Lược (兵書要略) đều đã thất lạc, tới nay vẫn không còn hi vọng nào để có thể tìm lại, nên tiên sinh đã phải than phiền rằng nguồn sử liệu Việt Nam rất sơ sài và ít ỏi. Ngoài những cuốn sách này ra, ta phải hiểu là còn rất nhiều sách sử nhà Trần đã thất lạc trong thời kỳ thuộc Minh, bị người Minh đốt bỏ hoặc đem về Trung Quốc. Đây là tổn thất lớn lao mà người Việt ta tới nay với tiếc nuối không dứt. Điều này khiến việc nghiên cứu không thể không dựa vào nguồn sử liệu dồi dào hơn của Trung Quốc. Bên cạnh cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư này, tiên sinh còn tham khảo thêm các sách chữ Hán viết tay được bảo tồn trong Thư Viện Khoa Học Trung Ương như Trần Đại Vương Bình Nguyên Thực Lục, Vạn Yên Thực Lục, Trần Triều Thế Phả Hành Trạng,…(trang 11). Nhưng như tiên sinh nhận xét, đây là các tài liệu chỉ có về sau, đa phần chép lại chứ không có gì mới mẻ so với Toàn Thư.
Tuy nhiên, trong các sử liệu mà tiên sinh sưu tầm sử dụng, có những sử liệu hết sức quý giá, đó là bài văn trên chuông Thông Thánh (Bạch Hạc Thông Thánh Quán Chung Ký白鶴通聖觀鐘記), bài văn trên bia mộ công chúa Phụng Dương (Phụng Dương Công Chúa Thần Đạo Bi Minh奉陽公主神道碑銘) và bài bia ở chùa Hưng Phúc dựng năm 1340 (興福寺碑). Đây đều là những tư liệu cực kỳ quý giá và khó tìm, nhưng tiên sinh đều đã thâu dụng xử lý rất chuyên nghiệp.

b. Sử liệu Trung Quốc

An Nam Chí Lược

Tư liệu đầu tiên mà tiên sinh sử dụng mà ta phải kể đến, đó là cuốn An Nam Chí Lược của Lê Trắc. Vì Lê Trắc đã theo chủ mình là Trần Kiện đầu hàng quân Nguyên trong cuộc chiến Nguyên-Việt lần 2 nên ông ta không thể không đứng trên lập trường của nhà Nguyên mà soạn sử. Tiên sinh nói sách này được viết “với một lập trường rất phản động” (trang 12, bản 2019). Từ “phản động” này là một từ phổ thông trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, dùng để chỉ những ý kiến và lập luận đi ngược lại với lập trường chủ đạo của chính phủ. Chúng ta không thể không thừa nhận những chỉ trích của tiên sinh và cộng sự đối với quyển An Nam Chí Lược này. Tiên sinh cũng nói dù sách viết bởi một người đã hàng giặc, nhưng vẫn là tài liệu cần thiết để nghiên cứu cuộc chiến chống Nguyên. Thật ra, ta phải có nhìn công bằng hơn cho Lê Trắc. Phần “Chinh Thảo Vận Hướng” trong quyển 4 của ANCL đã viết rất thiên lệch cho nhà Nguyên, chỉ chép những chiến thắng của nhà Nguyên mà không nhắc tới những chiến thắng của quân Trần. Tuy vậy, ở những phần khác, Lê Trắc đã sao chép y nguyên văn thơ của các sứ giả được vua Nguyên cử đến. Tiên sinh viết Lê Trắc “không muốn và không ngờ tới”, nhưng ở đây người viết phải nhấn mạnh nếu Lê Trắc không muốn và không ngời thì ông ta đã loại bỏ toàn bộ các văn thơ không có lợi cho nhà Nguyên, chứ đâu cần đưa vào. Điều đó cho thấy Lê Trắc khi soạn sách cũng không phải hoàn toàn thiên vị cho nhà Nguyên. Dù có nói giảm nói tránh cho quân Nguyên nhưng ở những phần khác ông cũng không muốn che lấp đi sự thật, đó chính là lý do tại sao ông chép y nguyên văn thư của vua tôi nhà Nguyên.

Nguyên Sử

Hà tiên sinh viết về Nguyên Sử như sau: “Đứng về phương pháp biên soạn mà nói, Nguyên Sử là bộ sử kém nhất, chứa đựng nhiều sai lầm và hỗn loạn nhất trong 24 bộ sử Trung Quốc.” Thật ra, công tâm mà nói, ta phải thấy Nguyên Sử là bộ sử rất quý giá về lịch sử nhà Mông-Nguyên. Vì sau khi nhà Minh lật đổ sự thống trị của người Mông Cổ, rất nhiều sử liệu đã thất tán hoặc bị hủy hoại. Điển hình là cuốn Kinh Thế Đại Điển đồ sộ ghi lại rất nhiều lĩnh vực của nhà Nguyên đã mất toàn bộ, chỉ còn vài phần trong Vĩnh Lạc Đại Điển. Điều đó cho ta thấy người Minh không chú trọng việc bảo tồn giữ gìn sử liệu đời Nguyên. Nguyên Sử phần bản kỷ và liệt truyện chủ yếu lấy từ “Thập Tam Triều Thực Lục” (十三朝朝實錄). Phần liệt truyện của Nguyên Sử còn dựa vào những by ký do các nhà Nho đời Nguyên soạn để tán tụng công tích của văn thần võ tướng đời Nguyên.

Khi nói về 24 bộ sử, không chỉ có Nguyên Sử, mà nhiều bộ sách khác cũng bị đánh giá phê bình, ví dụ nhà sử học chuyên nghiên cứu lịch sử nhà Tống Vương Tăng Du (王曾瑜) đã phê phán thế này về Tống Sử: 《宋史》二十四史中内容最庞杂的一部 (“Tống Sử” là bộ sử hỗn tạp nhất trong nhị thập tứ sử) (trích từ quyển Nhạc Phi Tân Truyện岳飞新传, trang 333) .

Xét về tính quan trọng thì Nguyên Sử là sử liệu quan trọng nhất để nghiên cứu lịch sử bang giao và chiến tranh giữa nhà Nguyên và nhà Trần. Chỉ riêng phần An Nam truyện (quyển 209) đã cung cấp cho ta cái sườn của toàn bộ quá trình ấy.
Nhưng ta cũng phải thấy sử liệu nhà Nguyên đã có chỗ cố tình mô tả động thái của vua Trần rất quỵ lỵ và khuất phục nhằm giữ thể diện cho triều đình Nguyên sau khi thất bại ba lần ở Việt Nam. Như đoạn này lấy từ Trương Lập Đạo truyện trong Nguyên Sử:

日燇拜,且泣涕而言曰:「公之言良是也,為我計者,皆不知出此。前日之戰,救死而已,寧不知懼天子使,公來必能活我。」北面再拜,誓死不敢忘天子之德。遂迎立道入,出奇寶為賄,立道一無所受,但要日燇入朝。日燇曰:「貪生畏死,人之常情,誠有詔貸以不死,臣將何辭。」乃先遣其臣阮代之、何惟巖等隨立道上表謝罪,修歲貢之禮如初,且言所以願朝之意。廷臣有害其功者,以為必先朝而後赦。日燇懼,卒不敢至,議者惜之。

Nhật Huyền bái lạy, còn rơi nước mắt mà nói: "Lời ngài nói đúng lắm, bọn bày kế cho tôi, đều không biết mọi việc xuất phát từ chỗ ấy (tức do biên tướng gièm pha). Chiến sự ngày trước, chỉ là để cứu chết mà thôi, chứ sao dám không biết sợ sứ của thiên tử, ngài đến tất có thể cứu sống tôi." Nhật Huyên hướng ra phía Bắc lạy, thề chết không dám quên đức của thiên tử. Bèn đón Lập Đạo vào, lấy vật lạ quý mà hối lộ, Lập Đạo quyết không nhận, nhưng muốn Nhật Huyên vào triều. Nhật Huyên nói: "Tham sống sợ chết, là lẽ thường của người, thực có chiếu tha chết, thần sao có thể thoái thác." Bèn trước tiên lệnh cho bề tôi là bọn Nguyễn Đại Chi, Hà Duy Nham theo Lập Đạo dâng biểu tạ tội, theo lệ tuế cống như trước, còn nói ý muôn triều cống. Đình thần có kẻ đố kỵ công của Lập Đạo, cho rằng tất phải trước vào chầu sau mới tha. Nhật Huyên sợ, rút cục không dám đến, những kẻ dị nghị lấy thế làm tiếc.

Các nguồn sử liệu khác:

Các nguồn sử liệu Trung Quốc khác đều được tiên sinh sử dụng để bổ sung cho Nguyên Sử. Tiên sinh đã khảo sát gần như toàn bộ thư tịch Trung Quốc có liên quan. Đây là một nỗ lực hết sức đáng khâm phục ở thời đại mà Internet chưa xuất hiện, khiến việc truy tìm và sưu tầm sử liệu hết sức khó khăn, đặc biệt trong điều kiện bom đạn khắc nghiệt.

Một điểm tuyệt vời của cuốn sách này đó là phần ghi chú bên dưới rất đỗi chi tiết. Gần như toàn bộ sử liệu được trích dẫn ghi chép rất chi tiết đầy đủ, khiến người viết rất dễ truy nguyên lại sử liệu.

2) Phương pháp tái xây dựng sự kiện lịch sử (historical reconstruction)

Toàn bộ sách của tiên sinh sử dụng phương pháp sắp xếp sự kiện theo trình tự thời gian (chronological order). Điều này nghĩa là tiên sinh phải chuyển đổi lịch Trung Quốc-Việt Nam sang Dương Lịch để người đọc dễ theo dõi. Đây là công việc phức tạp mà tiên sinh dày công nghiên cứu. Hiện nay đã có công cụ rất tiện dụng để ta chuyển lịch:


Do được sắp xếp như thế nên toàn bộ sách rất dễ theo dõi, rất dễ truy cứu mỗi khi phải tìm lại sự kiện lịch sử.

3) Xác định địa danh

Một điểm rất khó khác mà tiên sinh đã làm, đó là khôi phục và xác định địa danh xuất hiện trong thư tịch Việt Nam và Trung Quốc. Đây không phải là những nỗ lực của riêng tiên sinh, mà còn của các nhà sử học khác như giáo sư Đào Duy Anh. Song nhờ tiên sinh mà ta biết được đường tiến quân của quân Nguyên và quân Trần. Nếu không có những khảo cứu tỉ mỉ của tiên sinh thì ta rất khó hình dung tình hình chiến trận giữa 2 phe diễn ra như thế nào. Điều này cộng với trình tự thời gian mà tiên sinh phục dựng giúp đọc giả dễ theo dõi hơn.

4) Tái dựng tên của các nhân vật Mông Cổ và của các dân tộc khác:

Đây có lẽ là lĩnh vực mà tiên sinh đi trước rất nhiều nhà nghiên cứu. Các sách sử viết ở Trung Quốc ngày nay về nhà Nguyên đều giữ nguyên tên tiếng Hán của các nhân vật Mông Cổ hay các dân tộc không phải Hán. Điều này khiến cùng một chương mà tên các nhân vật này được thể hiện dưới các dạng khác nhau. Điều đó khiến người đọc không khỏi hoa mắt. Hà tiên sinh đã dày công nghiên cứu khôi phục tên Mông Cổ dựa trên quy luật ký âm của các nhà Mông Cổ học. Tuy nhiên, về mặt này, tiên sinh cũng đã gặp hạn chế. Người viết đã có cơ hội được trao đổi qua email với nhà Mông Cổ học nổi tiếng Christopher Atwood tại đại học Penn, Hoa Kỳ. Các tên mà Hà tiên sinh phục dựng đa số gần đúng, nhưng có nhiều tên sai cần chỉnh sửa. Dẫu sao trước giờ chưa ai làm được như tiên sinh nên có thể nói tiên sinh là người tiên phong trong lãnh vực này.

Nhược điểm của sách

Thiên vị cho nhà Trần

Sự thiên vị của tiên sinh cho nhà Trần thể hiện rõ nhất qua những điểm sau:
Ở trận tấn công Vạn Kiếp tháng 2 năm 1285, tiên sinh cho rằng: “Nhiều tài liệu chép rằng quân Trần đã tan vỡ, nhưng đó là đứng trên lập trường của kẻ thù, huênh hoang khoác lác (An Nam Chí Lược, Nguyên Sử), hoặc chỉ nhìn một cách hời hợt mặt ngoài.” Nhưng khảo cứu kỹ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có 2 chi tiết cho thấy quân Trần đã chịu tổn thất và đánh bất lợi với quân Nguyên:

乙酉七年九月以後重興元年元至元二十二年,春,正月六日,元烏馬兒犯萬刼、普頼山、等處官軍奔潰

Ất Dậu, [Thiệu Bảo] năm thứ 7 [1285], (từ tháng 9 về sau là Trùng Hưng năm thứ nhất, Nguyên Chí Nguyên năm thứ 22). Mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 6 (11-2-1285), tướng Ô Mã Nhi đánh vào các xứ Vạn Kiếp và núi Phả Lại, quan quân tan vỡ bỏ chạy.

Sử ta ghi rất rõ quân Trần đã tan vỡ. Chính sử của ta đã không dấu giếm gì thất lợi này nên ta đâu thể dễ dàng nói quân Trần “chủ động rút lui”?

Lại một chi tiết nữa cho thấy thế quân Nguyên rất mạnh:

賊兵勢逼,二帝潜御小舟幸三峙源。命引御舶出玉山,以疑賊情。

Thế giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ nguyên, sai người đưa thuyền ngự ra Ngọc Sơn để đánh lừa giặc.

Chúng ta thấy rõ chính sử nước ta đã thừa nhận giai đoạn đầu trong cuộc chiến thứ 2, quân ta đã không thể đẩy lui được địch, thậm chí còn tan vỡ thì làm sao có thể nói Nguyên Sử “huênh hoang khoác lác”?

Dĩ nhiên, quân Trần đã chủ động rút quân đi để bảo toàn lực lượng. Trước khi chiếm Thăng Long, Nguyên Sử còn ghi:

其險隘拒守處,俱有庫屋以貯兵甲。其棄船登岸之軍猶衆

Chúng phòng thủ ở các nơi hiểm yếu đều, có nhà kho để chứa binh giáp, mà quân chúng bỏ thuyền lên bờ cũng rất đông.

Điều này chứng tỏ tuy quân Trần có tổn thất nhưng lực lượng vẫn được bảo toàn. Một điều phải ghi nhớ đó là quân Trần dùng thuyền bè để tiến và lui quân, nên ngay cả khi quân Trần rút lui trong hỗn loạn, tan vỡ, thì vẫn có thể tụ tập lại rồi dùng thuyền tránh quân Nguyên. Quân Nguyên trong lần 2 không mang nhiều thuyền theo nên không thể truy kích kịp.

Thiếu khách quan khi xét thái độ vua Nguyên:

Hà tiên sinh đã nhiều lần gọi cách viết chiếu thư của vua Nguyên là "xảo quyệt" (trang 90, bản 2019), "ngạo mạn láo xược" (trang 101, bản 2019). Ta thấy những lời lẽ của Khã Hãn Qubilai thật ra là những lời hăm he đe dọa đặc trưng của các vương triều Mông Cổ, nó thể hiện cái uy và sự tự tin qua những chiến thắng quân sự với nhiều nước mạnh khác. Một cách khách quan, ta phải xem xét những lời lẽ đó trong phạm vi ngoại giao đời Trần-Nguyên. Nhà Trần đã tự xưng là chư hầu của Mông-Nguyên thì hãn nhà Nguyên có quyền dùng giọng "bề trên" để nói chuyện với vua Trần.

Những lời hăm dọa ấy không phải chỉ có ở các chiếu thư Hãn Qubilai gửi cho vua Trần, mà còn cả ở chiếu thư gửi cho Nhật Hoàng:

Đến như dụng binh, có ai lại thích việc, vương hãy suy tính đi." (以至用兵,夫孰所好,王其圖之。)

Xem thêm ở đây:


Thư từ mà Ilkhan Hulegu gửi nhà cầm quyền cuối cùng triều Ayyubid cũng mang đầy tính hăm dọa như thế.

Nếu nói chiếu thư láo xược, dùng ngay những cách đánh giá của tiên sinh, ta có thể nói vua Lê Thánh Tông cũng "ngạo mạn xấc láo" không kém gì Qubilai:

昔我太祖髙皇帝蕩平亂畧、肇造家邦。太宗文皇帝敬天勤民、繼志述事、小懷大畏、内修外攘。裳卉䯻椎、梯山航海、萬流仰德、八極傾風。蚩蠢占城、趦趄鬼窟、蜂蠆養而成毒、禽獸飽而忘恩、躑躅獨夫、徘徊小智、彰聞穢德、好忘無地之軀、包藏禍心、妄畫射天之策。

"Bọn Chiêm Thành ngu xuẩn kia, thập thò trong hang thỏ, như loài ong độc, được nuôi rồi đốt lại, như giống cầm thú, ăn no lại quên ơn; là kẻ vô đạo lừng khừng, là hạng tiểu trí lẩn quẩn. Thái nhơ nhuốc sờ sờ, quên thân mình không đất ở, lòng gian ác chất chứa, vạch liều kế bắn trời cao."

Những sử liệu chưa dùng:

Trong quá trình tìm tòi, sưu tập, và dịch thuật, người viết đã phát hiện nhiều tư liệu mới có thể bổ sung thêm cho nghiên cứu của tiên sinh. Tiên sinh đã không có trong tay những tư liệu đời Nam Tống như Khả Trai Tục Cảo hậu (可齋續藁後) của Lý Tăng Bạch (李曾伯 1198-1268). Đây là tài liệu rất quý thể hiện quan hệ tam giác Trần-Nguyên-Tống. Lý Tăng Bạch có tiếp xúc với sứ giả ta ở Quảng Tây, do đó ít nhiều nắm được tình hình của ta trong thời gian kháng chiến lần 1.
Tài liệu thứ hai mà tiên sinh chưa có, có thể dùng để bổ sung nhiều chi tiết cho trận Bạch Đằng năm 1288, đó là bài bia của viên tướng Phàn Tiếp được lưu giữ trong cuốn Phó Dữ Lệ Văn Tập (傅與礪文集) của nhà thơ Phó Nhược Kim (傅若金).
Tài liệu mới tuy không phải là quá nhiều nhưng nếu tiên sinh có trong tay, chắc chắn sách của tiên sinh sẽ đầy đủ và công phu hơn.

Tổng kết:

Lời kết cho trước tác này của Hà tiên sinh đó là đây là một danh tác rất đáng trân trọng, không thể không đọc với những ai muốn tìm hiểu quan hệ ngoại giao Nguyên-Việt, chiến tranh giữa Nguyên-Việt và Nguyên-Champa. Những nhược điểm có thể dễ dàng được loại bỏ nếu được đọc song song với bản dịch mà người viết dịch trong vài năm qua:

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2020

TỐNG SỬ ĐỖ CẢO - ĐỖ THỨ TRUYỆN CHÚ DỊCH (QUYỀN 412) (宋史杜杲•杜庶傳注譯(卷412)注譯)


Tống Sử quyển 412: Đỗ Cão - Đỗ Thứ truyện (宋史杜杲卷412)

杜杲,字子昕,邵武人。父穎,仕至江西提點刑獄,故杲以任授海門買納鹽場,未上,福建提點刑獄陳彭壽檄攝閩尉。民有甲之子死,誣乙殺之,驗髮中得沙,而甲舍旁有池沙類髮中者,鞫問,子果溺死。

Đỗ Cảo, tự là Tử Hân, người Thiệu Vũ. Cha là (Đỗ) Dĩnh, làm quan tới chức Giang Tây Đề Điểm Hình Ngục, cho nên Cảo nhậm chức Hải Môn Mãi Nạp Diêm Tràng, chưa nhậm chức, Phúc Kiến Đề Điểm Hình Ngục Trần Bành Thọ lệnh Cảo đổi làm Mân Úy (tức chức Úy đất Mân, Mân là tên gọi khác của tỉnh Phúc Kiến. Dân có con của bên giáp (nguyên văn dùng chữ giáp 甲, sau dùng chữ ất 乙, nghĩa tương đương người A, người B) chết, vu cho bên ất giết nó, khám nghiệm thì thấy trong tóc có cát, mà cát từ cái ao cạnh nhà bên giáp giống với cát trong tóc đứa bé, xét hỏi, thì quả nhiên nó chết đuối.

江淮制置使李珏羅致幕下。滁州受兵,檄杲提偏師往援,甫至,民蔽野求入避,滁守固拒,杲啟鑰納之。金人圍城數重,杲登陴中矢,益自奮厲,卒全其城。

Giang, Hoài Chế Trí Sứ Lý Giác vời (Cảo) đến dưới phủ quan. Trừ Châu thụ binh (bị tấn công), lệnh Cảo chỉ huy hai cánh quân tiếp cứu, lúc vừa tới, dân chúng đông đúc xin vào (thành) tránh (địch), Trừ Châu quyết cự tuyệt, Cảo mở khóa cho họ vào. Người Kim vây thành mấy vòng, Cảo lên tường thành bị trúng tên, càng thêm phán chấn, rốt cục thành ấy được bảo toàn.

調江山丞,兩浙轉運使朱在辟監崇明鎮,崇明改隸淮東總領,與總領岳珂議不合,慨然引去。珂出文書一卷,曰:「舉狀也。」杲曰:「比而得禽獸,雖若丘陵,弗爲。」珂怒,杲曰:「可劾者文林,不可強者杜杲。」珂竟以負蘆錢劾,朝廷察蘆無虧,三劾皆寢。

Điều Cảo làm Giang Sơn Thừa (chức Thừa vùng Giang Sơn), Lưỡng Chiết Chuyển Vận Sứ Chu Tại cho vời làm chức Giám Sùng Minh Trấn (tức trấn Sùng Minh), Sùng Minh đổi thuộc Hoài Đông Tổng Lĩnh, (Cảo) bàn bạc với Tổng Lĩnh Nhạc Kha không hợp, khẳng khái rời đi. Kha lấy một quyển văn thứ nói: "Là thư tiến cử." Cảo nói: "Kết thành bè đảng bắt cầm thú, tuy có nhiều như núi cũng không làm." Nhạc Kha nổi giận, Cảo nói: "Kẻ có thể hặc tội là Văn Lâm (tức Văn Lâm Lang, một cấp quan), kẻ không thể bị ép buộc là Đỗ Cảo." Kha lại vì việc nợ tiền mua cỏ hặc tội Cảo, triều đình kiểm tra thấy cỏ không thiếu, ba lần đàn hặc đều ngưng.

淮西制置曾式中辟廬州節度推官。浮光兵變,杲單騎往誅其渠魁,守將爭餉金幣,悉封貯一室,將行,屬通判鄭準反之。安豐守告戍將扇搖軍情,且爲變,帥欲討之,杲曰:「是激使叛也。」請與兩卒往,呼將諭之曰:「而果無他,可持吾書詣制府。」將即日行,一軍帖然。

Hoài Tây Chế Trí (Sứ) Tăng Thức Trung cho vời (Cảo) làm Lư Châu Tiết Độ Sứ Thôi Quan. Phù Quang binh biến, Cảo đơn kỵ đến giết thủ lĩnh của chúng, thủ tướng tranh nhau quà thưởng tiền bạc, đều niêm phong tồn trữ trong một phòng, lúc sắp đi, dặn dò Thông Phán Trịnh Chuẩn trả lại chúng. An Phong Thủ Tướng báo việc các thủ tướng làm dao động lòng quân, sắp làm biến (tức làm loạn), Thống Sư muốn đánh chúng, Cảo nói: "Như thế là khiến chúng phản." Bèn xin cùng hai sĩ tốt đi, gọi tướng lĩnh lại nói: "Nếu quả không có ý gì khác, có thể cầm thư của ta đến Chế Phủ." Tướng lĩnh ấy đi trong ngày hôm ấy, quân ấy yên ổn.

知六安縣,民有嬖其妾者,治命與二子均分。二子謂妾無分法,杲書其牘云:「《傳》云:『子從父令』,律曰:『違父教令』,是父之言爲令也,父令子違,不可以訓。然妾守志則可,或去或終,當歸二子。」部使者季衍覽之,擊節曰:「九州三十三縣令之最也。」

(Cảo) làm Tri Lục An Huyện, dân có người thiếp được sủng ái, viết di chúc để cho người thiếp phân tài sản bằng nhau với hai người con. Hai người con nói bà thiếp không có quyền phân tài sản, Cảo viết công văn nói: "Truyện nói: "Con theo lệnh cha." Luật nói: "Làm ngược mệnh lệnh giáo huấn của cha." Như vậy lời cha là mệnh lệnh, cha ra lệnh mà con làm trái, không phải là phép tắc. Nhưng nếu người thiếp thủ tiết thì được phân tài sản, nếu tái hôn hoặc qua đời, thì nên trả lại cho hai con." Bộ Sứ Giả Quý Diễn xem qua, thưởng lãm mà nói: "Cửu Châu ba mươi ba Huyện Lệnh đệ nhất vậy."

知定遠縣,會李全犯邊,衍時爲淮帥,辟通判濠州,朝廷以杲久習邊事,擢知濠州。制置大使趙善湘謀復盱眙,密訪杲,杲曰:「賊恃外援,當斷盱眙橋梁以困之。」卒用其策成功。金衆數萬駐榆林阜請降,輜重甚富,或請誘而圖之。杲曰:「殺降不仁,奪貨不義,納之則有後患。」諭而遣之。召奏事,差主管官告院,知安豐軍。善湘與趙范、范弟葵出師,遷淮西轉運判官。詔問守禦策,杲上封曰:「沿淮旱蝗,不任征役;中原赤立,無糧可因。若虛內事外,移南實北,腹心之地,必有可慮。」時在外諫出師者惟杲一人。及兵敗洛陽,人始服其先見。奉崇道祠,再知濠州,未行,改安豐。大元兵圍城,與杲大戰。明年,大兵復大至,又大戰。擢將作監,御書慰諭之。丞相李宗勉、參知政事徐榮叟曰:「帥淮西無逾杜杲者。」詔以安撫兼廬州,進太府卿、淮西制置副使兼轉運使。復與大元兵戰。累疏請老,不許。權刑部尚書。

(Cảo) làm Tri Định Viễn Huyện, bấy giờ Lý Toàn phạm biên, (Quý) Diễn lúc ấy làm Hoài Thống Sư (Thống Sư đất Hoài), cho Cảo làm Thông Phán Hào Châu, triều đình vì việc Cảo từ lâu hiểu rõ biên sự, đề bạt làm Tri Châu Hào Châu. Chế Trí Đại Sứ Triệu Thiện Sương mưu phục Hu Di, bí mật tới hỏi Cảo, Cảo nói: "Giặc cậy vào cứu viện từ bên ngoài, nên cắt cây cầu ở Hu Di để khiến chúng khốn đốn." Rốt cục dùng kế sách ấy thành công. Quân Kim vài vạn đồn trú ở Du Lâm Phụ xin hàng, truy trọng (xe chở quân lương) rất nhiều, có kẻ xin dụ mà lấy chúng. Cảo nói: "Giết kẻ đã hàng là bất nhân, cướp lấy của cải là bất nghĩa, nhận chúng thì sẽ có mối lo về sau." Truyền dụ rồi thả chúng đi. Triệu (Cảo) về tấu sự tình, sai làm Chủ Quản Quan Cáo Việc, Tri An Phong Quân. (Triệu) Thiện Sương cùng Triệu Phạm, em Phạm là (Triệu) Quỳ xuất quân, chuyển (Cảo) làm Hoài Tây Chuyển Vận Phán Quan. Xuống chiếu hỏi kế sách phòng bị, Cảo dâng mật thư tâu rằng: "Ven sông Hoài bị nạn hạn hán và châu chấu, không thểm đảm đương việc quân dịch, Trung Nguyên trơ trụi, không có lương để dựa vào. nếu lấy bên trong trống không đối với bên ngoài, dời dân phía Nam để tăng cường cho phía Bắc, những chổ hiểm yếu, tất có chỗ đáng lo." Bấy giờ ở ngoài can ngăn việc xuất quân chỉ có mỗi mình Cảo. Đến khi binh bại ở Lạc Dương, người mới bắt đầu phục tầm nhìn xa của Cảo. (Cảo) cúng ở Sùng Đạo Tự (tức đền Sùng Đạo), lại làm chức Tri Hào Châu, chưa nhậm chức, đổi làm Tri An Phong. Quân Đại Nguyên vây thành, cùng Cảo đại chiến. Năm sau, đại binh lại tới đông, lại đại chiến. (Cảo) được đề bạt làm Tướng Tác Giám, (hoàng đế) ngự bút viết thư ủy dụ Cảo. Thừa Tướng Lý Tông Miễn, Tham Tri Chính Sự Từ Vinh Tẩu nói: "Thống lĩnh Giang Tây không ai qua được Cảo." Chiếu làm An Phủ Sứ kiêm Tri Châu Lư Châu, tiến phong Thái Phủ Khanh, Giang Tây Chế Trí Phó Sứ kiêm Chuyển Vận Sứ. Lại cùng quân Đại Nguyên đánh, nhiều lần dâng sớ xin về dưỡng lão, không cho, được đề bạt làm Hình Bộ Thượng Thư.

淳祐元年,乞去愈力,擢工部尚書,遂以直學士奉祠。帝欲起之帥廣西,以言者罷。帝曰:「杜杲兩有守功,若脫兵權,使有後禍,朕何以使人?」乃起知太平州。俄擢華文閣學士、沿江制置使、知建康府、行宮留守,節制安慶、和、無爲三郡。

Năm đầu Thuần Hựu (1241), xin từ quan càng thêm kiên quyết, được đề bạt làm Công Bộ Thượng Thư, do vậy làm Trực Học Sĩ Phụng Từ. Hoàng đế muốn khởi dụng Cảo làm Sư Thần Quảng Tây, vì có người can gián nên bãi bỏ. Hoàng đế nói: "Đỗ Cảo hai lần phòng thủ lập công, nếu từ bỏ binh quyền, ví như có hậu hoạn, trẫm dùng người sao đây?" Bèn khởi dụng (Cảo) làm Thái Bình Châu Trí Châu. Không lâu sau thăng làm Hoa Văn Các Học Sĩ, Duyên Giang Chế Trí Sứ (Chế Trí Sứ vùng duyên sông Trường Giang), Kiến Khang Phủ Tri Phủ, Hành Quan Lưu Thủ, tiết chế An Khánh, Hòa, Vô Vi ba quận.

杲罷楊林堡,以其費備歷陽,淮民寓沙上者護以師。首謁程顥祠。總領所即張栻宦游處,陳像設祀焉。置貢士莊,蠲民租二萬八千石。復與大元兵戰於真州。進敷文閣學士,遷刑部尚書,引見,帝加獎勞。乞歸,不許,兼吏部尚書。杲隨資格通其礙,銓綜爲精。梁成大子賂當國者求銓試,杲曰:「昔沈繼祖論朱文公,成大亦論真文忠公,皆得罪名教者,子孫宜廢錮,安得仕?」進徽猷閣,奉祀。請老,升寶文閣致仕。帝思前功,進龍圖閣而杲卒,遺表上,贈開府。

Cảo dở bõ Dương Lâm Bảo (thành nhỏ Dương Lâm), lấy phí ấy bổ sung cho Lịch Dương, dùng quân đội bảo vệ dân Hoài sống trên bãi cát. Trước tiên yết bái ở Trình Hiệu Tự (đền Trình Hiệu). Thống Lĩnh Sở tức là nơi Trương Thức làm quan (1), bày hình vẽ cúng tế ở đó. Đặt cống sĩ trạng (2) miễn cho tô (thuế) cho dân hai vạn tám nghìn thạch. Lại cùng quân Đại Nguyên chiến ở Chân Châu. Được tiến phong làm Phu Văn Các Học Sĩ, đổi làm Hình Bộ Thượng Thư, lúc tiếp kiến, hoàng đế gia thưởng ủy lạo. (Cảo) xin về quê, không cho, kiêm Lại Bộ Thượng Thư. Cảo tùy theo tư cách mà khơi thông những chỗ vướng mắc, tuyển chọn nhân tài. Con của Lương Thành Đại hối lộ cho người đương quyền để đỗ qua kỳ thi, Cảo nói: "Xưa Thẩm Kế Tổ bàn luận Chu Văn Công, Thành Đại Diệc bàn luận Chân Văn Trung Công, đều kẻ có tội với danh giáo, con cháu nên bị cấm suốt đời không được làm quan, há có thể làm quan?" Tiến phong Huy Du Các, làm tế lễ. (Cảo) xin cáo lão, thăng làm Thực Văn Các Chí Sĩ. Hoàng đế nghĩ đến công lao ngày trước, tiến phong làm Long Đồ Cát nhưng Cảo qua đời, dâng biểu (nguyên văn dùng chữ dĩ biểu 遺表 chỉ biểu chương do đại thần viết trước lúc lâm chung, đợi sau khi chết dâng lên thánh thượng.), truy tặng Khai Phủ.

(1) Trương Thức (張栻) (1133-1180), tự Kính Phủ, là một nhà lý học đời Nam Tống.

(2) Cống sĩ trạng: Theo sách Tống Đại Khoa Cử Xã Hội (宋代科舉社會) của học giả Lương Canh Nghiêu (梁庚堯) thì dưới triều Nam Tống đặt Cống Sĩ Trạng (貢士莊) hay Cống Sĩ Khố (貢士庫), dùng điền tô để giúp tiền cho người lên kinh thành ứng thi. Nguyên văn: 南宋時期,地方政府常設貢士莊或貢士庫,以田租的收入或利息的收入做經費,補助到京城應考的考生 (...) (Vào thời Nam Tống, chính phủ địa phương thường đặt Cống Sĩ Trạng hoặc Cống Sĩ Khố, lấy thu nhập từ điền tô hay thu nhập từ lợi tức làm kinh phí, giúp đỡ cho các thí sinh đến kinh thành ứng thi...) (trang 132)

杲淹貫多能,爲文麗密清嚴,善行草急就章。晚歲專意理學,嘗言:「吾兵間無悖謀左畫,得於《四書》。」子:庶。

Cảo uyên bác thông suốt nhiều tài năng, làm văn hoa mỹ trang nhã mà nghiêm nghị tỉ mỉ, giỏi viết chữ thảo (thư pháp), một chốc thành chương (viết thành bài văn rất nhanh). Cuối đời chuyên tâm (nghiên cứu) lý học, từng nói: "Ta trong quân không có mưu sai kế hỏng, nhờ đọc "Tứ Thư"" Con là (Đỗ Thứ).

子庶

Con Đỗ Thứ

庶,字康侯,幼倜儻有大志,性剛勁,通宋典故,善爲文。從父兵間,習邊事,未入仕已立戰功。明堂恩補官。大元兵圍安豐,兵將不相下,庶調護咸得其歡心,卒協力捍禦。杲帥淮西,辟書寫機宜文字。廬州圍解,庶白事廟堂,諸將饋金助上功費,皆受之,賞典行,歸悉反所饋。遷籍田令兼制機督幹。監呂文德、聶斌軍,與大元兵戰朱皋、白冢,遷將作監簿。

(Đỗ) Thứ, tự là Khang Hầu, thưở nhỏ phóng khoáng có chí lớn, tính tình cứng rắn, thông điển cố nhà Tống, giỏi làm văn. Tòng quân của cha, quen viện biên cương, chưa làm quan đã lập chiến công. Vì ân điển minh đường được bổ làm quan. Quân Đại Nguyên vây An Phong, binh tướng không nhường nhịn nhau, Thứ hòa giải đều lấy được lòng yêu thích của họ, rốt cục hiệp lực phòng ngự. Cảo nhậm chức Sư Thần Hoài Tây, triệu Thứ làm Thư Tả Cơ Nghi Văn Tự. Lư Châu giải vây, Thứ báo sự tình lên triều đình, chư tướng tặng vàng giúp làm phí thưởng công báo tin, đều nhận chúng, lễ thưởng làm xong, quay về đều trả lại quà tặng. Chuyển làm Tịch Điền Lệnh kiêm Chế Cơ Đốc Hàn. Giám sát quân của Lữ Văn Đức, Nhiếp Bân, cùng quân Đại Nguyên chiến ở Chu Cao, Bạch Trủng, đổi làm Tướng Tác Giám Bộ.

杲在建康,庶通判和州,權知真州。郡素缺備,庶大修守禦,具積排杉木殆十萬株。差知興化軍,奉祀鴻禧觀。起知邕州,改潮州,以言者寢命。赴淮東制司議幕,過闕,遷將作監丞。遷司農丞、知和州,陛辭,言:「今天時不可幸,地利不可恃,人和不可保,苟恃天幸,恃長江,恃清野,而付邊事於素不諳歷之人,未見其可。」帝嘉納。

(Đỗ) Cảo ở Kiến Khang, Thứ làm Thông Phán Hòa Châu, nhậm quyền Tri Chân Châu. Quận vốn thiếu phòng bị, Thứ đại trùng tu phòng ngự, tích trữ xếp chồng gỗ Sam gần mười vạn cây. Sai làm Tri Hưng Hóa Quân, cung tế ở đền Hồng Hi. Khởi dụng Tri Ung Châu, đổi làm Triều Châu, do gián quan can gián nên bải bỏ lệnh ấy. (Thứ) đi làm Hoài Đông Tiết Tư Nghị Mạc, đi qua kinh thành, chuyển làm Tướng Tác Giám Thừa, chuyển làm Tư Nông Thừa, Tri Hòa Châu, dâng tấu nói: "Nay thiên thời không được vui mừng, địa lợi không thể trông cậy, nhân hòa không thể bảo toàn, nếu trông vào vận may, cậy vào Trường Giang, nhờ vào kế thanh dã, mà việc biên cương giao cho kẻ vốn không có kinh nghiệm, không thấy khả dĩ." Hoàng đế khen ngợi chịu nghe ý ấy. 

尋兼淮西提點刑獄,浚城濠,增守備,修學宮。知真州兼淮東提點刑獄,逾年,進直秘閣,移淮西兼廬州安撫副使,人歡迎如見慈父,治績甚多。就任加刑部郎中,升寶文閣,與大元兵戰於望仙、白沙城。昇華文閣。開慶元年冬,進大理少卿、淮東轉運副使、兩淮制置司參謀官,特授兩淮制置使、知揚州。射陽湖饑民嘯聚,庶曰:「吾赤子也。」遣將招刺,得丁壯萬餘,戮止首惡數人。明年四月,火,抗章自劾,召赴行在。尋直寶文閣、知隆興府、江西轉運副使,卒。

Không bao lâu sau kiếm chức Hoài Tây Đề Điểm Hình Ngục, đào sâu thành hào, tăng cường phòng bị, tu sửa trường học (nguyên văn là chữ học cung 學宮, nghĩa là trường học đời xưa). Làm Tri Chân Châu kiêm Hoài Đông Đề Điểm Hình Ngục, thăng tiến thẳng Bí Các, dời làm Hoài Tây kiêm Lư Châu An Phủ Phó Sứ, người người hoan nghênh như gặp người cha hiền (nguyên văn là 慈父 nghĩa là người cha thương con), thành tích cai trị rất nhiều. Nhậm chức Gia Hình Bộ Lang Trung, thăng Bảo Văn Các, cùng quân Đại Nguyên chiến ở Vọng Tiên, Bạch Sa Thành. Thăng lên Hoa Văn Các. Mùa đông năm đầu Khai Khánh (1259), tiến phong Đại Lý Tiểu Khanh, Hoài Tây Chuyển Vận Phó Sứ, Lưỡng Hoài Chế Trí Tư Tham Mưu Quan, đặc cách trao chức Lưỡng Hoài Chế Trí Sứ, Tri Dương Châu. Dân ở Xạ Dương Hồ đói mà kêu la tụ tập, Thứ nói: "Là con dân của ta." Sai tướng chiêu mộ, được tráng đinh hơn vạn người, giết vài kẻ thủ ác. Năm sau (1260) tháng tư, hỏa hạn, dâng sớ tự hặc tội, triệu đến chỗ vua. Không lâu sau thăng Bảo Văn Các, Tri Long Hưng Phủ, Hoài Tây Chuyển Vận Phó Sứ, qua đời.

TAM TRIỀU BẮC ĐIỂN HỘI MINH (QUYỂN 1) CHÚ DỊCH (三朝北盟會編(卷1)注譯)

  三朝北盟會編 輯者:徐夢莘 南宋 1194 年 〔宋〕徐夢莘撰。 夢莘,字商老,臨江人,紹興二十四年進士,爲南安軍教授,改知湘陰縣,官至知賓州,以議鹽法不合罷歸,事蹟具《宋史·儒林傳》。夢莘嗜學博聞,生平多所著述,史稱其「恬於榮進,每念生靖康之亂……思究見顚末,乃網羅舊聞,薈...